Song Lang không chỉ là lựa chọn hoàn hảo cho những ai muốn “sống chậm” mà còn dành cho những ai ôm ấp một đam mê hay khát khao một cuộc gặp gỡ, một lần được thấu hiểu trong đời…

Một bộ phim của đạo diễn Leon Lê, từ nhà sản xuất Ngô Thanh Vân. Sau Tấm Cám: Chuyện chưa kể và Cô Ba Sài Gòn gây bão (ít nhất là) về hiệu ứng truyền thông, Song Lang ra rạp trong im ắng lạ thường. Cặp đôi chính Isaac – Liên Bỉnh Phát cùng câu chuyện phảng phất màu đam mỹ trở thành yếu tố gần như duy nhất để khán giả tò mò về phim, còn đề tài cải lương chỉ khiến không ít người ngần ngại rằng Song Lang chỉ là lời kêu gọi “bảo vệ truyền thống” hời hợt một chiều. Nhưng Song Lang hóa ra không “khó tiêu” như tưởng tượng!

Bộ phim lấy bối cảnh Sài Gòn những năm 80 của thế kỷ trước. Dũng Thiên Lôi (Liên Bỉnh Phát) là một gã giang hồ làm nghề đòi nợ mướn lạnh lùng và “chuyên nghiệp”. Trong một lần đòi nợ ở đoàn cải lương Thiên Lý, Dũng gặp Linh Phụng (Isaac) – một kép trẻ khẳng khái nhưng cũng hết sức ngây thơ đang loay hoay về chất say mê còn thiếu cho lời ca của mình. Hai cuộc đời và một thoáng giao nhau, để chàng kép hát tìm thấy cảm xúc chân thật và gã giang hồ tìm được đường về. Nhưng cả hai đều phải trả giá cho những điều mình đã tìm ra.

Ấn tượng đầu tiên về Song Lang là bối cảnh – một Sài Gòn rõ nét và đầy sức gợi. Với màu phim trầm mặc mang không khí hoài cổ thì rạp cải lương nườm nượp người trước mỗi suất diễn, những khu chung cư cũ tối mờ, những cầu thang hun hút, tiệm cho mướn đĩa, chiếc xe honda cub với tiếng nổ máy đặc trưng… đều khiến khán giả hài lòng. Đặc biệt, “chất nghề nghiệp” của đoàn cải lương sau cánh gà được dựng rất sinh động – từ cái bàn thờ tổ, người nhắc tuồng, đồ hóa trang đến chuyện đóng thế kép chánh hay thậm chí là hát sai lời… đều được thể hiện, vừa đủ duyên, vừa đủ mang lại tiếng cười và ít nhiều thấu hiểu, từ cả những khán giả chưa một lần bước vào rạp cải lương.

Kịch bản của Song Lang không quá xuất sắc, không có những cú twist hấp dẫn, thậm chí nhịp phim ban đầu còn có phần chậm rãi (có lẽ là một cách cố tình – để khán giả phần nào “cảm” được không khí của thập niên 80 chăng?). Nhưng dù sao, đó là một kịch bản tròn trịa và hợp lý, không có những đoạn “lên gân” quá đà theo kiểu của rất nhiều phim Việt gần đây. Tất cả chi tiết đều khớp nhau và mang ý nghĩa, như vở cải lương phải là Mỵ Châu – Trọng Thủy, bộ đồ diễn tẩm xăng hay câu chuyện về chú voi cô độc bởi lựa chọn của nó… Lời thoại tinh tế cũng là một điểm cộng cho Song Lang. Không khô khan “giảng đạo” hay cố gắng “bay bổng” cho đúng chất lãng mạn, lời thoại của Song Lang giản dị nhưng không chỉ đúng mà còn “trúng”. Dũng Thiên Lôi nói chuyện ngắn ngủn, cộc lốc đúng kiểu một gã giang hồ phớt đời, làm nhiều nói ít, ngược với một Linh Phụng ban đầu dè dặt rồi không giấu nổi say mê khi nói về con đường nghệ thuật mình theo đuổi.

Nhưng lời thoại sẽ không có ý nghĩa mấy nếu không kèm yếu tố diễn xuất, đặc biệt là với một kịch bản “không twist” như thế! Nhưng cả hai diễn viên chính đều tròn vai. Nếu Liên Bỉnh Phát với gương mặt đậm chất điện ảnh – một phát hiện mới mẻ và đáng giá của đạo diễn Leon Lê – thể hiện khá tốt nội tâm phức tạp của gã giang hồ nhiều góc khuất Dũng Thiên Lôi thì Isaac cũng cho thấy mình tiến bộ thế nào khi “diễn” bằng lối ca rất ngọt. Nét ngây thơ trong trẻo của chàng kép trẻ có thể không khó đối với Issac, nhưng khác biệt lớn nhất nằm hai phân cảnh đối lập đầu và cuối phim – hai lần Linh Phụng đóng kép chính Trọng Thủy, cũng là trước và sau khi gặp Dũng Thiên Lôi. Trong tương quan với những nghệ sĩ gạo cội như lần đầu anh ca bằng kỹ thuật, lần thứ hai là đứt ruột đứt gan mà ca. Có thể hiều người cho rằng chỉ có Dũng Thiên Lôi trả giá cho đường về lương thiện của mình, nhưng tôi tin rằng chính Linh Phụng cũng đã trả giá – dù là ngẫu nhiên hay là lựa chọn đi nữa, anh cũng đã đổi trong trẻo lấy u hoài. Mãi mãi về sau, tiếng hát của kép chánh Linh Phụng cho những tuồng tâm lý sẽ không còn như trước nữa!

Tất nhiên, Song Lang không phải là một bộ phim hoàn hảo.

Thông điệp “yêu đi rồi diễn” và sức lay động của cải lương đều rõ ràng, nhưng bộ phim có lẽ còn hơi dở dang trong kỳ vọng làm sống lại một thời hoàng kim của loại hình nghệ thuật này cải. Ngoại trừ nhân vật Dũng Thiên Lôi và bà chị “fan cuồng” của Linh Phụng, còn khá ít những chi tiết cho thấy sức lan tỏa của nó. Tuy nhiên, sự tiết chế đó cũng là mang đến lợi thế đáng giá cho Song Lang: nội dung đơn giản nhưng tròn trịa vẫn tốt hơn là tham lam quá nhiều ý tứ. Nếu Cô Ba Sài Gòn khiến khán giả “bội thực” bằng điệp khúc áo dài xuyên suốt thì Song Lang duyên dáng và nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Lay động, chứ không hô hào, không đòi hỏi một sự xót thương nào. Như cái cách Dũng Thiên Lôi nằm chết trước cửa rạp hát khi người bạn của mình thăng hoa trên sân khấu, cải lương trong Song Lang không đòi người thương hại mà chỉ lặng lẽ tìm một tri âm.

Màu phim âm trầm, nhịp phim chầm chậm, nhưng Song Lang không chỉ là lựa chọn hoàn hảo cho những ai muốn “sống chậm” mà còn dành cho những ai ôm ấp một đam mê hay khát khao một cuộc gặp gỡ, một lần được thấu hiểu trong đời. Giữa ngồn ngộn những phim Việt hiện nay, Song Lang là một điểm sáng hiếm hoi dung hòa được cả ý nghĩa nội dung và yếu tố giải trí trên phông nền văn hóa Việt được chăm chút kỹ lưỡng. Nếu một người bạn nước ngoài hỏi tôi về lựa chọn cho ngày cuối tuần này, tôi sẽ không ngại ngần mà gợi ý Song Lang!

—-

* Tựa đề bài viết đã được biên tập viên đặt lại.

* Trong ngôn ngữ bây giờ, từ “cải lương” hình như mang hơi hướng tiêu cực nhiều hơn. Tuy nhiên, hai chữ “cải lương” ban đầu mang một ý nghĩa rất tích cực.

“Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.”

Nguyên Thảo

Ý kiến

Please enter your comment!
Please enter your name here