Tác giả: Cô Út Gia Định (Diễm Trang)
Trong Quán Kỳ Nam, âm nhạc không chỉ là nhạc nền. Nó là bộ dữ liệu, là người dẫn chuyện mềm mại mà sắc bén – một storyteller đúng nghĩa.
Bởi lẽ, nhiều nhân vật trong phim – Khang, Kỳ Nam, ông Hạo, Su, Đôn – đều thuộc kiểu người kiệm lời. Họ nói bằng ánh mắt, bằng nhịp thở, bằng sự im lặng, bằng nụ cười, bằng cái chau mày… Trong một bộ phim mà lời thoại được rút xuống mức tối giản thì hình ảnh và âm nhạc đứng ra ăn nói.
Âm nhạc chính là linh hồn của Quán Kỳ Nam.
-/-
I. Những chắt lọc âm thanh phù hợp
Trong khuôn khổ bài viết, mình không liệt kê được hết tất cả các bản nhạc và giai điệu trong Quán Kỳ Nam nhưng đảm bảo rằng bài nào cũng “khớp cảnh” đến mức khó lòng thay bằng bài khác.
Điểm dễ nhận thấy của Quán Kỳ Nam là: Các ca khúc như Bến giang đầu, Xin thời gian qua mau, Thu sầu được bày trải hết lời ca. Với những bài còn lại, đạo diễn – nhạc sĩ – dựng phim chỉ chọn đúng một đoạn/ một câu để cài vào đúng khoảnh khắc. Kỹ thuật “thả câu” này cho thấy ê-kíp âm nhạc hiểu sâu: tâm lý nhân vật, văn hóa và ký ức của người Sài Gòn cũng như tinh thần từng giai đoạn lịch sử.
Dưới đây là một số nhạc phẩm đã xuất hiện trong phim:
(1) “Bến Giang Đầu” – Nhạc sĩ: Lê Trọng Nguyễn
Phim mở ra bằng giọng Hà Thanh, không cường điệu, không ồn ào mà nhẹ nhàng, trong veo ngay cả lúc buồn rầu. Người xem không thể bỏ qua câu “Rồi đời ta vỡ tan làm đôi” vì đó không phải tình ca đơn thuần. Đó là sự dự báo trước những phận đời, những tâm hồn đã – đang – sắp “vỡ tan làm đôi” trong hơn 2 tiếng phim, bao gồm khán giả. Một câu hát đặt toàn bộ thế giới phim vào trạng thái chia lìa. Không lời thoại nào làm được điều đó.
Bến giang đầu còn có tên khác là Nắng chiều 2, gợi nhớ ca khúc Nắng chiều cũng do Lê Trọng Nguyễn sáng tác và được sử dụng trong bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Mộng Hoàng (1973).
(2) Bài ca không quên – Nhạc sĩ: Phạm Minh Tuấn
Bài này được xử lý văng vẳng như đang phát ra từ loa phường hay radio, minh hoạ cho âm thanh đời sống. Bài nhạc nhắc người xem rằng các nhân vật đang sống trong bối cảnh những năm 80, nơi mọi ngóc ngách đời sống đều có tiếng vọng của thời kì mới như Đất nước, Thành phố tình yêu và nỗi nhớ, Sao biển, Con đường có lá me bay, Thơ tình cuối mùa thu, Thuyền và biển, Một đời người một rừng cây…
Bài ca không quên gắn liền với tên tuổi nữ ca sĩ Cẩm Vân hơn 40 năm, cũng là một bài nhạc trong bộ phim cùng tên của đạo diễn Nguyễn Văn Thông (1982).
(3) Xin thời gian qua mau – Nhạc sĩ Lam Phương
Phần đầu bài hát phát ra từ máy nghe đĩa than trong nhà ông Hạo:
“Buồn nào hơn đêm nay
Buồn nào hơn đêm nay
Khi ngoài kia bão tố đầy trời
Từng cánh lá cuốn gió
Rơi vào lòng đêm thâu
Thương thầm mối tình ngâu…”
Lam Phương là một mảnh linh hồn của âm nhạc miền Nam. Nỗi buồn trong nhạc ông sâu hoắm mà hiền lành, chỉ tủi thân chứ không oán phận, càng lận đận long đong thì càng rộng lượng nhịn nhường. Ông Hạo nghe Lam Phương vì hồn ông ở trong hồn nhạc.
Lại thêm một dự báo về tình dang dở trong ca từ “mối tình ngâu”. Ba chữ ấy hứa hẹn một “combo” Ngưu Chức: đúng người – sai thời điểm – trái không gian – bị ngăn trở – lỡ khó tìm. Khó chứ không phải là không thể.

(4) Lời tỏ tình của mùa xuân – Nhạc sĩ Thanh Tùng
Một phần bài hát được phát trong rạp chiếu phim, lúc khán giả đang sốt ruột chờ phần cuối phim “Moskva không tin vào nước mắt” trên đường từ rạp khác về (một trong các chi tiết thực – hài – duyên – đắt của Quán Kỳ Nam).
Nhạc xa nhỏ:
“Mùa xuân đến, đạp xe trên phố tóc xõa vai mềm
Mùa xuân hát (hái) nụ hoa thơm ngát nở trên môi hồng
Mùa xuân rất hiền lặng yên ngồi nghe tôi hát…”
rồi to rõ ở câu:
“Và tôi biết rằng nói yêu em là điều khó khăn”
ngay lúc mắt Khang nhìn đăm đắm Kỳ Nam. Đây chính là câu thay cho lời tỏ tình đã không được thốt ra chính thức trong phim. Khang yêu nhưng không dám nói. Kỳ Nam thương nhưng sợ làm khổ. Hai con người chọn im lặng để không tan vỡ đời nhau. Một câu hát tố giác tất cả nỗi lòng nhân vật.
Câu hát kết hợp với bộ phim “Moskva không tin vào nước mắt” trở thành tấm gương phản chiếu tâm hồn Khang – Kỳ Nam. Bộ phim hôm ấy “rất gì và này nọ” với hoàn cảnh và tâm trạng Kỳ Nam – Khang. Kỳ Nam đọc tựa phim lên và khen hay. Hai người có một đoạn thoại ngắn đủ để khán giả hiểu: Họ, cũng như Sài Gòn, đều có nước mắt nhưng không dám tin vào (hay giấu?) nước mắt của chính mình.
Vào thời điểm những năm 80, người Việt ít có lựa chọn xem – đọc – nghe gì. Điều thú vị là những yếu tố văn hoá phổ biến khi ấy – như phim Liên Xô, nhạc cổ động xây dựng đời sống mới con người mới nếu rơi đúng tình huống, vẫn có thể trở thành thần chú bộc lộ nội tâm. Đoạn phim trong phim – nhạc trong phim này được xử lý sáng tạo, khớp mối đến kinh ngạc.
(5) Người yêu cô đơn – Nhạc sĩ: Đài Phương Trang
Khi bước vào một khu chung cư cũ, chúng ta hay có xu hướng lướt vội qua lối vào khu trệt, nhắm hướng cầu thang mà tiến (vì không gian này có khi hẹp, dơ, tối). Quán Kỳ Nam rất tinh tế khi lưu tâm đến con người và nhịp sống ở tầng trệt – chỗ sát cầu thang. Một góc nhỏ thôi mà là chốn mưu sinh của người buôn bán nhỏ, bảo vệ, là trung tâm truyền tin, là nơi tập kết các camera chạy bằng cơm.
Thú giải trí của những người đàn ông ở đó thường là nói chuyện thời sự, chuyện bóng đá, đánh cờ, uống chút rượu bia, hút điếu thuốc hay đàn hát nghêu ngao.
Trong phim, có người đàn ông ngồi ghế đẩu ôm đàn hát: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên”. Nghe có vẻ than thở vậy thôi chứ không có buồn đâu, vì buồn đủ rồi hoặc đang vợ con đùm đề, thành ra hát nhẹ tênh mà vô nhịp lắm. Lạ một điều là nam phụ lão ấu gì thời đó cũng thuộc bài này.
Theo trí nhớ của mình, list nhạc “kinh điển” của team hẻm hóc Sài Gòn 1980s còn có Hoa sứ nhà em (nàng), Đập vỡ cây đàn, Lệ đá, Con đường xưa em đi, Sầu tím thiệp hồng…
Câu hát thoáng qua từ người đàn ông cũng nhằm thông báo đến khán giả: Yên tâm nha, mấy nhân vật chính không có cách gì không cô đơn đâu.
(6) Thu sầu – Nhạc sĩ Lam Phương
Giọng ca đỉnh cao của tân nhạc Việt Nam tiễn một mối tình đồng thời tiễn khán giả ra về với những ca từ xao xác. Thật ra, chưa cần đến đoạn danh ca Thái Thanh cất tiếng thì ai cũng hiểu kết cuộc phim sẽ là như vậy. Phải vậy thì mới hợp lý cho Khang, cho Kỳ Nam và cho kỳ vọng tập thể. Nhưng Quán Kỳ Nam vẫn vời Thái Thanh khép lại câu chuyện vì Thu sầu giúp khán giả hồi tưởng, liên tưởng và hệ thống lại những gì mình vừa xem cực kỳ hữu hiệu.
Mỗi câu hát, từng ca từ đều tái hiện một cảnh phim, một chi tiết:
– “Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy”: Chữ của Kỳ Nam và chữ của Khang nằm trên cùng một trang đánh máy.
– “Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy”: Khang. “Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu”: Cũng là Khang.
– “Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên”, “Thương chi cho lắm giờ cũng vô duyên”: Không thành thì cứ đổ cho duyên, cho nghiệp, vừa nhẹ lòng vừa có màu sắc triết học, tôn giáo.
– “Nhớ”, “sầu”, “chưa yên”, “buồn nát con tim”, “chôn kín mộng ước”, “bơ vơ”, “thương đau”: Tình trạng chung của những người cả nghĩ, tự trọng và đa cảm trong tình yêu.
– “Nhịp cầu Ô Thước hẹn đến mai sau”: Đã cảnh báo ngay từ đầu phim đây là “mối tình ngâu” rồi mà.
Vả lại, Thu sầu không chỉ có vai trò kết truyện. Bài hát còn là mảng màu hảo hạng cuối cùng để hoàn thiện bức tranh hoài niệm mang tên Quán Kỳ Nam.

II. Thao tác hoà giải văn hoá và tiếp biến văn hoá khéo léo
Không chỉ có Kỳ Nam và Khang, hai luồng âm nhạc trong phim cũng thuộc dạng “trên tuổi ngược phe”. Từ chỗ chẳng thấy ăn nhập gì, người cũng như nhạc dần đồng cư và nảy sinh giao cảm.
Hòa giải văn hóa không phải là tha thứ hay quên đi, không phải vui vẻ như chưa từng chia rẽ và càng không phải xóa sạch những vết thương lịch sử. Hòa giải văn hóa đơn giản là để các giá trị khác nhau cùng chung một không gian, không định kiến, không xô lệch.
Như chúng ta đã biết, nhạc Việt ở miền Nam trước 1975 và sau 1975 có nhiều điểm khác nhau, từ mỹ học, tinh thần, ngôn ngữ cho đến mục đích sáng tác. Nhưng Quán Kỳ Nam đã làm mượt mà việc đặt hai dòng nhạc ấy cạnh nhau, phối hợp với nhau, không triệt tiêu nhau. Và đó cũng là tinh thần tiếp biến văn hoá: không cực đoan, không phủ định trắng – đen, cái gì đẹp – phù hợp thì giữ, phối trộn thành phiên bản mới của chính mình, mở rộng dung lượng sống. Sài Gòn từ xưa đã là vùng đất mở, chấp nhận hoà giải, tiếp biến văn hoá hơn là bài xích, loại trừ. Nhờ tinh thần đó, tất cả các bản nhạc trong phim được phối trộn hợp lý, trở thành các mảnh ghép của cùng một ký ức.
Có thể nhận ra trong Quán Kỳ Nam những chỉ dấu của trị liệu nghệ thuật: Khi các tiếng hát của “hai bờ” tuần tự nối nhau vang lên, người nghe tìm thấy sự liên kết mềm mại từ quá khứ. Tổn thương chỉ có thể lành lặn khi ký ức được nhìn nhận và sắp xếp lại.
III. Nhạc có lời: Liệu pháp âm nhạc đúng đắn của Quán Kỳ Nam
Lướt mạng, mình thấy có khán giả đặt câu hỏi: Vì sao Quán Kỳ Nam không sử dụng nhạc không lời, vừa sang vừa hợp tính cách nhân vật vừa đỡ “drama”, “đay nghiến” hơn nhạc có lời?
Mình xin phép trình bày suy nghĩ cá nhân:
(1) Văn hóa Sài Gòn – miền Nam là văn hóa của LỜI. Tân nhạc miền Nam không phải là nhạc chỉ để nghe giai điệu. Nó là thi ca được hát lên, là “văn chương 3 phút”, là nơi con người trút nỗi lòng. Cái gì không tiện nói trực tiếp thì người ta gửi gắm qua thơ, qua nhạc.
Một bài tân nhạc trước 1975 thường kể một câu chuyện (chẳng hạn như Giọt lệ đài trang của Châu Kỳ, Chuyện người trinh nữ tên Thy của Hoàng Thi Thơ, Nỗi buồn Châu Pha của Lê Dinh…); một huống trạng cảm xúc, một tình cảnh cá nhân (chẳng hạn như Mưa rừng của Huỳnh Anh, Kiếp nào có yêu nhau của Phạm Duy, Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn…).
Nhạc không lời không phải là màu sắc chủ đạo của âm nhạc miền Nam cả trước và sau 1975, vì nó không chuyển tải được tự sự, nỗi lòng một cách trực tiếp, chính xác, súc tích như nhạc có lời.
Người Sài Gòn – miền Nam được nuôi nấng, giáo dưỡng trong cái nôi của nghệ thuật hát bội, vọng cổ, cải lương, tân nhạc, kịch nói, văn học, điện ảnh… Tất cả đều chung một nền tảng: linh hoạt và đẹp đẽ trong từ ngữ, giàu có hình ảnh và biểu tượng, đa dạng các biện pháp tu từ, phong phú thành ngữ – điển tích – điển cố… Tất cả làm nên niềm tự hào và trở thành tài sản vô hình. Quán Kỳ Nam muốn phục dựng lại bối cảnh xã hội và văn hoá Sài Gòn nên đã nghiên cứu, nắm vững các quy tắc đó và tái hiện đúng ký ức tập thể đó.
(2) Danh ca Thái Thanh có giọng nữ cao rất đặc biệt: trong trẻo ở phần âm cao nhưng vẫn ấm ở phần âm trầm. Bà nối câu thật mượt, giữ hơi dài mà không run và kéo tiếng từ nốt này sang nốt khác một cách chủ động để làm tăng sức biểu cảm. Bà thay đổi độ lớn – nhỏ của tiếng hát và nhịp chậm – nhanh rất tinh tế bằng nội lực. Bà nhấn nhá từng chữ để làm nổi ý thơ trong lời ca. Thái Thanh biết dành chỗ cho những khoảng lặng và những đường lượn của giai điệu. Chính sự hòa quyện giữa kỹ thuật bậc thầy, khả năng phân tích ca từ sâu sắc và phẩm cách nghệ sĩ đã khiến các nhạc sĩ lớn của Việt Nam tin tưởng gửi gắm tác phẩm và trao cho bà vị thế “nữ hoàng” của thanh nhạc Việt Nam.
Dĩ nhiên, mỗi người trong chúng ta đều có quyền tiếp nhận nghệ thuật theo cách riêng. Mình nhắc lại vị thế của “tiếng hát vượt thời gian” Thái Thanh như một cách cổ vũ chọn lựa đúng đắn của nhà sáng tạo Quán Kỳ Nam trong việc đưa giọng ca của bà vào một bộ phim hoài niệm về Sài Gòn.
-/-
Có thể thấy, âm nhạc trong Quán Kỳ Nam không phải thứ đặt vào cho có hay để minh họa bối cảnh. Nó là một người kể chuyện thầm lặng, là tiếng lòng của nhân vật, là tấm gương phản chiếu những vùng sâu lắng trong nội tâm họ. Qua cách lựa chọn và đặt để từng bài hát, bộ phim hiển lộ chủ thể văn hóa đứng sau nó: mỹ cảm tinh tế, vốn liếng tri thức lịch sử – xã hội – văn hoá nghệ thuật vững vàng, sự am hiểu chân tơ kẽ tóc đời sống Sài Gòn trước và sau 1975. Nhà làm phim xuất sắc trong việc chọn đúng bài hát, đúng giọng ca, đúng khoảnh khắc, gieo mỹ cảm và dư ba cho người xem.
Quán Kỳ Nam, vì vậy, là lời mời mọc nghe lại các bài nhạc Sài Gòn xưa đầy thuyết phục.
Diễm Trang













