Review phim

‘Mắt Biếc’ – Biếc tận đáy lòng

Mắt Biếc

Mắt biếc là một tác phẩm điện ảnh thực thụ, không phải là bộ minh họa truyện bằng hình. Cơn mưa lời khen và cảm xúc dào dạt của khán giả có lẽ đã đủ bảo chứng chất lượng cho bộ phim mới nhất của Victor Vũ.

Tôi đến rạp với tâm thế xem một bộ phim thanh xuân vườn trường mang thương hiệu Victor Vũ. Bởi lẽ, tôi chưa bỏ sót một phim nào của anh, kể từ Chuyện tình xa xứ. Lý do ủng hộ Vũ là vì tôi thấy phim anh luôn mang một điều gì đó mới và thu hút mỗi khi xuất hiện: một gương mặt mới, một cách kể mới, một không gian mới… Với tôi, Vũ đặc biệt có khả năng biến những chuyện bình thường, nhan nhản thành riêng biệt pha một chút hoặc nhiều chút giật gân. Vì vậy, tôi tò mò muốn xem anh “mềm tay” với Mắt biếc như thế nào – sau lần “thơ hóa”, “đẹp hóa” Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh.

“Ngôn tình” của bộ đôi Nguyễn Nhật Ánh – Victor Vũ

“Đời người có hai điều nhất định không được bỏ lỡ: một là, chuyến xe cuối cùng; hai là, người thương yêu mình thật lòng”.

Không dày đặc nhưng Mắt biếc có những câu thoại mang tính chiêm nghiệm “chết người” như thế. Những triết lý chỉ xuất hiện khi người ta thực sự sa ngã vào một cuộc tình, tường tận dư vị ngọt ngào lẫn đắng cay của nó. Đó cũng là mô thức đặc trưng của ngôn tình kim cổ.

Nguyễn Nhật Ánh chưa từng có ý định viết ngôn tình. Trong một buổi giao lưu với bạn đọc, anh từng khẳng định vẫn sẽ luôn viết về trẻ em, về tuổi mới lớn với tất cả sự nồng nhiệt mê say, vì anh tin vào sức mạnh của Cái Thiện. Mà điều ấy, không đâu dồi dào, ăm ắp hơn ở người trẻ. Độc giả mới lớn dường như cũng ủng hộ Nguyễn Nhật Ánh bằng cách cứ ở cạnh những cuốn sách của anh trong nhiều năm tháng. Cho tới lúc lớn lâu.

Victor Vũ cũng chưa có bộ phim nào diễm tình. Tình trong các phim trước của anh là tình thù, tình ác, tình thoáng, tình vui. Khán giả tìm đến phim Victor Vũ cũng không chủ đích tìm kiếm một cuộc tình long lanh, sâu sắc.

Nhưng thật không ngờ, sự kết hợp của bộ đôi Ánh – Vũ lần này lại tạo nên một “ngôn tình” đúng chất Việt. Một tam giác đầy day dứt giữa Ngạn – Hà Lan – Dũng; một Đo Đo dung dị, mộng mơ từng thoáng qua hay ấp ủ trong tưởng tượng của người đọc giờ được định hình trọn vẹn và hơn cả mong chờ. Tứ kịch ăm ắp, vững chải từ nguyên tác cộng hưởng với năng lực của ê kíp làm phim đã đánh thức trong khán giả không biết bao nhiêu rung động, hoài niệm cùng vô số trầm trồ, tán thưởng.

Một trong những lý do khiến độc giả trẻ yêu thích truyện Nguyễn Nhật Ánh là vì anh luôn nhìn thấu và diễn đạt duyên dáng nhu cầu được thở, được lớn, được “hư”, được sống trọn vẹn với từng mi-li-mét thời gian của mấy đứa con nít ăn chưa no lo chưa tới. Canh me ngay lúc người đọc hăng say dự phần vào thế giới của chúng thì anh… kết truyện, để lại những ngẩn ngơ, lơ lửng. Vũ dường như cũng từng ở trong đám đông tiếc hùi hụi ấy nên quyết lòng nối dài một trong những “dở dang” của Ánh là Mắt biếc. Vậy là, chúng ta có một Mắt biếc phiên bản điện ảnh đầy đặn, chỉn chu trong kịch bản, bối cảnh, diễn xuất, âm nhạc.

Mắt biếc là một tác phẩm điện ảnh thực thụ, không phải là bộ minh họa truyện bằng hình. Cơn mưa lời khen và cảm xúc dào dạt của khán giả có lẽ đã đủ bảo chứng chất lượng cho bộ phim mới nhất của Victor Vũ. Có quá nhiều điều để bàn, để khen cho Mắt biếc: những gương mặt diễn viên mới toanh và xuất sắc vừa chạm ngõ điện ảnh, những khung hình đẹp mơ màng, những cảnh, những thoại hài hước mà xon xót… Mười năm lăn lộn với các dự án phim đa dạng về thể loại đã giúp sản phẩm mới nhất của Victor Vũ đạt đến độ viên mãn.

Câu chuyện đẹp về những người bị mắc kẹt

Mắt biếc là câu chuyện quá đẹp về những người bị mắc kẹt.

Mắc kẹt trong tình yêu đôi lứa, mắc kẹt trong thao thức đợi chờ, mắc kẹt trong chọn lựa mà xoay bề nào cũng thấy chông chênh. Kể cả anh chàng “Sở Khanh” Dũng cũng có một đứa trẻ chưa kịp lớn mắc kẹt trong hình hài phong trần của một tay chơi thứ thiệt. Mỗi người đều cố vùng thoát ra khỏi mớ bòng bong ràng rịt mình trong đó, bằng cách này hay cách khác. Chỉ có Ngạn là tự nguyện được mắc kẹt suốt đời. Dù là lúc ở ngã tư, ngã ba hay lùi vào một ngõ hẻm của tình cảm thì Ngạn vẫn là một đường thẳng đơn độc. Thông qua Ngạn, đường dây nhân vật lưỡng phân của phim tuần tự xuất hiện: người dám đợi chờ và người từ chối đợi chờ, người trở về và người ra đi, người đi tìm và người chạy trốn.

Vì sao những cuộc mắc kẹt trong phim khiến người xem nghẹn ngào xúc động đến vậy? Là vì, có một thứ to tát hơn cả tình yêu lứa đôi vĩnh viễn “mắc kẹt” trong lòng mỗi cá nhân: tình quê hương xứ sở. Lòng hoài hương khiến người ta dù ở đâu cũng phải quày quả trở về. Và nếu buộc phải ra đi thì trái tim vẫn vĩnh viễn thuộc về nguồn mạch đó. Tình yêu của Ngạn dành cho Hà Lan không thể dừng lại được, vì nó đã cùng Ngạn mắc kẹt mãi mãi ở hội làng, ở bãi chợ, nơi bến sông, trên đồi sim cùng con đường làng quanh co đi về những chuyến xe của Đo Đo.

Với nhân vật Ngạn, Victor Vũ đã chuyển hẳn quan niệm về giới trong mô thức thường thấy ở phim Việt – vốn rất chú trọng khai thác hình tượng người nữ. Mắt biếc vẫn có những người bà, người mẹ, người con gái tần tảo, thiệt thòi. Nhưng lần này, họ “làm nền” cho một kiểu nhân vật nam mới nổi là Ngạn. Một Ngạn có vẻ “bất phùng thời”, cứ lơ ngơ trong vẻ gầy gò, tồi tội, quê quê, chầm chậm của mình. Một Ngạn từ hoa niên cho đến trung niên và chắc chắn là cả đời chỉ tôn thờ, chung thủy với một người. Không ai thảm bằng Ngạn mà cũng không ai cao khiết bằng Ngạn. Ngạn nắm níu hồn làng bằng cách gìn giữ hồn mình. Yêu một người con gái từ vụng dại cho đến sâu sắc như máu thịt, Ngạn khiến ta tin có những điều là toàn ý toàn tâm, là tuyệt đối trong thuyết tương đối của cuộc đời. Chính sự giản dị, trong trẻo, tinh tế, nhiệt thành hiếm thấy làm nên hào quang của Ngạn. Ngạn là “nam thần” mới của phim Việt, có thể không hấp dẫn từ phút đầu tiên nhưng khiến người ta xuýt xoa, ngưỡng mộ, thậm chí… tương tư lúc kết phim. Giữa xô bồ và xáo trộn của những hệ giá trị, Ngạn như một làn gió mát lành phả vào tâm hồn chịu nhiều va đập đời sống của người xem, đánh thức Cái Thiện lẫn niềm tha thiết được yêu thương trong họ.

Trong phim, Ngạn có thể cô độc và tội nghiệp dưới cái nhìn của người đời. Nhưng ở góc độ khác, Ngạn giàu có với một thiên đường đầy cây trái tình yêu ngọt lành, từng ngày từng giờ âm vang thánh kinh tình yêu do chính Ngạn viết nên. Ngạn cũng không cô đơn mãi trong xác tín tình yêu của mình. Ngạn đã có truyền nhân. Trà Long sẽ tiếp nối Ngạn rảo bước tìm ký ức thơ ngây giữa vườn sim. Trà Long sẽ tiếp nối Ngạn giữ hồn làng Đo Đo bằng hồn mình. Trà Long sẽ tiếp nối Ngạn vun vén, đắp bồi không mỏi mệt những tin yêu trong trẻo. Nhưng Trà Long sẽ không khổ sở. Vì Trà Long có một điều mà Ngạn và Hà Lan không có: sự quyết đoán, thẳng thắn và bắt nhịp kịp thời với những điều mình trân trọng, yêu thương.

Những đôi mắt biết nói trong không gian thực và thơ

Không gian của Mắt biếc xoay quanh hai trục đối lập: làng quê Đo Đo – Quảng Nam và thành thị – Huế. Dĩ nhiên là Victor Vũ đã âm thầm tuyển lựa thêm nhiều bối cảnh khác, ở nhiều tỉnh thành, địa điểm khác nhau để gọt vừa vào hai không gian chính của Mắt biếc. Không chỉ vậy, không gian ấy còn nhuộm màu thời gian những năm 80 của thế kỉ trước (dù nhiều đoạn lại mang hơi hướm những năm 70). Quá khâm phục đoàn làm phim! Mắt biếc như một bảo tàng nhỏ trưng bày hàng chục, hàng trăm vật dụng cách đây 30-40 năm: bút lá tre, bình mực tím, lon gigo, tủ gạc-măng-rê, bếp dầu, bút Hero, giấy bông gói quà, xe Honda 67, xe hơi cổ, quần ống loe, những bộ đồ vải pha nilon sau vài lần giặt thì “chó táp ba ngày không tới”… Có cảm giác công cuộc phục dựng và sưu tầm “cổ vật” này vô cùng gian lao mà nhất định phải làm để “đã nư” nguyên ê-kíp làm phim.

Mắt biếc còn có hai không gian khác làm người xem xao xuyến: không gian đồi sim và không gian của những chuyến xe. Đồi sim là quá khứ mà cũng là thực tại, là mộng mị mà cũng là hiện hữu, là phụ phàng mà cũng là chung thủy bạc đầu. Cảnh tượng ấy tuy mênh mông nhưng cũng có vai trò tương tự cái hộp đựng kẹp tóc be bé của Ngạn: cùng lưu giữ ký ức, cùng chất chứa những điều chỉ của riêng Ngạn và Hà Lan. Riêng không gian của toa xe lửa, xe lam, xe đò lại hàm chứa trong đó những bỡ ngỡ, đổi thay, thất vọng, mất mát. Đó cũng là không gian của kiếm tìm và trốn chạy. Nhưng cũng chính không gian nhỏ hẹp ấy làm nên cái hăm hở, rộn ràng của ra đi và trở về, của hoài bão và kiên định. Và đặc biệt, không gian cũ kĩ đó có những nàng thơ bất chợt bước ra làm Ngạn ngẩn ngơ.

Vì truyện lẫn phim đều tên Mắt biếc nên đạo diễn chọn kể chuyện bằng mắt xuyên suốt bộ phim. Mỗi nhân vật trong phim, từ một em bé đến một cụ già, từ vai phụ đến vai chính, đều có đôi mắt biết nói (và khuôn miệng biết cười). Tất cả các nhân vật trong phim đều sẵn sàng, thậm chí “chực chờ” để bộc lộ nỗi niềm bằng mắt mỗi khi có cơ hội xuất hiện trong khuôn hình. Các cú quay cận cảnh cho thấy “casting” đúng không thể đúng hơn cho từng nhân vật. Và vì có nhiều đôi mắt nên phim tất nhiên sẽ có nước mắt. Nhiều giọt nước mắt đã rơi trong phim nhưng tuyệt nhiên chẳng giọt nào thừa thãi. Giọt thất vọng. Giọt thương yêu. Giọt cảm kích. Giọt cay đắng. Giọt hờn ghen. Giọt phẫn uất. Giọt thiệt thòi. Giọt tủi thân. Tôi thương nhất là những giọt nước mắt của Ngạn đoạn ngồi trên xe lửa. Chúng dường như buồn nhất trong khái niệm về nỗi buồn. Chúng mặn đắng hơn và day dứt hơn tất cả những giọt nước mắt của Ngạn từ ngày thơ cho đến thanh xuân. Chúng đại diện cho nỗi đau tự mình cắt lìa mình khỏi nơi đáng lẽ thuộc về mình.

Khi trẻ, Victor Vũ hay kể về nỗi sợ trong phim mình. Chín chắn rồi, anh chọn thủ thỉ câu chuyện của tâm hồn. Vũ hôm nay thực sự có ma thuật bắt khán giả bỗng dưng mắc kẹt trong “câu chuyện mắt” của mình. Một câu chuyện nên thơ, da diết và BIẾC tận đáy lòng.

Diễm Trang